This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Tăng cân nhiều trong thai kỳ: Lợi bất cập hại!

Nhiều người cho rằng khi mang thai thì tăng cân càng nhiều càng tốt vì con bên trong bụng mẹ sẽ được “hưởng” nhiều hơn. Nhưng thực tế không hoàn toàn như vậy.

Nguyên nhân dẫn đến việc tăng cân quá mức

Khi có thai cơ thể phụ nữ có nhiều sự thay đổi, ngoài ra còn có những thay đổi về chuyển hóa cơ bản, sự thay đổi của nội tiết tố trong cơ thể dẫn đến biểu hiện chán ăn một hoặc nhiều món, buồn nôn, nôn, ợ nóng, táo bón dẫn đến thời kỳ gọi là “ốm nghén” như: biểu hiện chán ăn một hoặc nhiều món, buồn nôn, nôn, ợ nóng, táo bón. Những thay đổi này ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến sự tăng cân của thai phụ, khiến họ không tăng cân thậm chí bị sụt cân đi.

Chính vì vậy, khi qua được thời gian đầu này, thai phụ có tâm lý ăn “trả bữa”, bù lại thời gian trước và ngày càng trở nên mất kiểm soát. Một nguyên nhân khác về tâm lý đối với những thai phụ lần đầu có con sẽ được gia đình “tận tình chăm sóc” bằng đủ loại thực phẩm giàu dinh dưỡng, dễ dẫn đến quá đà.

Những bất lợi từ việc tăng cân quá mức

Ảnh hưởng đến mẹ:

Đái tháo đường thai kỳ: trong nhiều nghiên cứu cho thấy thai phụ tăng cân quá mức có nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường cao gấp đôi những phụ nữ tăng cân bình thường. Điều đó có nghĩa bé sẽ có nhiều nguy cơ mắc bệnh khi trưởng thành. Chính vì vậy, việc quản lý cân nặng của bà bầu trong suốt quá trình mang thai là ưu tiên hàng đầu vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của bà mẹ và thai nhi.

Thai to: thai phụ tăng cân quá nhiều sẽ khiến thai nhi thường có xu hướng to hơn, vì vậy mẹ sẽ bị mệt mỏi, cổ tử cung giãn rộng và chèn vào cơ hoành gây khó thở, chèn vào tĩnh mạch vùng chậu, gây phù chân. Hơn nữa, việc sinh con to cũng khiến mẹ mất sức nhiều hơn, tổn thương phần mềm như rách âm hộ, âm đạo, cổ tử cung, mất nhiều máu.

Mổ lấy thai: tỉ lệ mổ lấy thai cao khi siêu âm thai to đặc biệt ở những thai phụ có khung chậu bình thường hay hẹp. Phẫu thuật mổ lấy thai cũng trở nên phức tạp và nguy hiểm hơn đối với các bà bầu béo phì. Lớp mỡ dày dưới da sẽ khiến bác sĩ khó khăn hơn trong việc gây tê, truyền tĩnh mạch…

Khó lấy lại vóc dáng sau sinh: khi tăng cân quá mức trong thai kỳ sẽ dẫn đến thừa cân và béo phì, điều này cũng là trở ngại không nhỏ về thẩm mỹ làm cho thai phụ có thay đổi không tốt về ngoại hình như: da chùng không săn chắc sau khi sinh con, khó lấy lại vóc dáng sau sinh.

Ảnh hưởng đến con:

Bất thường về tim: theo các chuyên gia, thai nhi to cũng dễ bị phì các cơ quan trong cơ thể, điển hình nhất là những bất thường ở buồng tim, dẫn đển xác suất tử vong cao khi ở trong bụng mẹ.

Ngạt khi sinh: sinh thai nhi quá to cũng là nguyên nhân chính khiến tỉ lệ các mẹ chọn đẻ mổ không ngừng tăng. Khi thai nhi quá to, quá trình chuyển dạ ở mẹ gặp nhiều khó khăn do đầu thai nhi to, không lọt xuống thấp, gây rối loạn cơn gò. Ngay cả khi đầu thai nhi đã lọt thấp xuống, quá trình sinh nở vẫn diễn ra chậm, đầu dễ bị chèn ép vào khung chậu, xương vai mắc kẹt ở khoang chậu mẹ. Nếu xử lý không kịp thời, có thể con sẽ bị ngạt, dễ gây tử vong.

Rối loạn chuyển hóa sau sinh: những bé sinh nặng cân, sau khi sinh thường dễ bị hạ đường huyết, hạ canxi huyết, kéo theo một loạt những nguy hiểm: hạ thân nhiệt, suy hô hấp, suy hệ tuần hoàn. Nếu nguy hiểm hơn bé có thể bị xuất huyết não dẫn đến bại não. Các bé sơ sinh thừa cần đều có nguy cơ bị bệnh đái tháo đường nhiều hơn các bé khác.

Chấn thương khi sinh: thai nhi quá to dẫn đến sinh khó, các bé dễ bị chấn thương, đặc biệt khi sinh có trợ giúp (giác hút, phoóc-xép) như: gãy tay, gãy xương đòn.

Kiểm soát trọng lượng thai phụ trong thai kỳ

Để tránh được việc này, thai phụ nên kiểm soát chặt chẽ việc tăng cân trong thai kỳ. Cụ thể như sau: mức tăng cân đủ trong suốt thai kỳ được khuyến nghị tại Việt Nam là từ 10 - 12kg, trong đó: 3 tháng đầu thường tăng khoảng 1kg, 3 tháng giữa 4 - 5kg, 3 tháng cuối tăng 5 - 6kg. Trong 6 tháng cuối mỗi tháng tăng ít hơn hoặc bằng 1kg là tăng cân ít.

Kiểm soát chế độ ăn uống: giảm ăn vặt, chia bữa ăn thành nhiều bữa nhỏ, ăn chậm, nhai kỹ, ăn có nhiều chất xơ, uống đủ nước và không quên tập thể dục nhẹ nhàng cho vừa sức. Việc tập thể dụng cũng giúp cho việc sinh con sau này cũng trở nên dễ dàng hơn.

Khám thai định kỳ: trong quá trình khám thai, thai phụ nên được theo dõi diễn biến cân nặng của mẹ, ước chừng diễn biến tăng trưởng của thai nhi thông qua thăm khám và siêu âm. Ngoài ra, thai phụ nên được kiểm tra đường huyết và đường niệu khi khám thai.

BS. DƯƠNG MINH HÙNG


Trào ngược dạ dày, thực quản khi mang thai

Ma Thị Thảo (Cao Bằng)

Phụ nữ mang thai thường bị triệu chứng trào ngược dạ dày thực quản và càng trở nên trầm trọng khi thai lớn. Sau khi sinh thì triệu chứng sẽ giảm bớt. Việc điều trị trong lúc đang mang thai cũng giống với điều trị chứng trào ngược lúc không mang thai đó là thay đổi lối sống và dùng thuốc. Vì vậy bạn nên ăn làm nhiều bữa, không ăn tập trung quá no vào một bữa ăn; Không ăn muộn vào gần giờ đi ngủ; Chỉ nằm sau khi ăn hơn 2 giờ; Kê đầu cao khi ngủ; Hạn chế dùng các thực phẩm dễ gây trào ngược như: Thuốc lá, rượu bia, các gia vị cay nóng, những trái cây có chứa nhiều vitamin C... Bên cạnh đó, cần trao đổi với bác sĩ theo dõi thai về các triệu chứng của mình. Khi đó bác sĩ có thể chỉ định cho phép dùng các thuốc điều trị chứng trào ngược. Các thuốc này có thể giúp hạn chế tình trạng trào ngược, tuy nhiên không được tự ý sử dụng hoặc dùng theo lời mách bảo.

Bác sĩ Bùi Phương

Tuổi 40, phụ nữ dễ mắc bệnh gì?

Phụ nữ bước qua tuổi 40 là giai đoạn gắn liền với thời kỳ tiền mãn kinh. Lứa tuổi này sức đề kháng và khả năng hấp thu dinh dưỡng giảm nhiều, tinh lực dồi dào của tuổi trẻ đến nay đã dần cạn... Các chức năng cơ thể không còn hoạt động tốt như trước nên cần đề phòng một số bệnh hay gặp.

Vóc dáng thay đổi và hội chứng tiền mãn kinh

Lượng mỡ trong cơ thể thiếu nữ tuổi dậy thì chỉ chiếm có 10% thể trọng, nhưng ở ngoài tuổi 40, lượng mỡ tích tụ nhiều, chiếm đến trên 20%, hơn nữa phần lớn tích tụ ở vùng bụng, thắt lưng và ở đoạn trên của tay chân, do đó phụ nữ tuổi trung niên dễ thấy rõ thể hình không còn thon thả cân đối như trước nữa. Ở lứa tuổi này, buồng trứng bắt đầu suy thoái, mức estrogen trong cơ thể hạ thấp và dần bị thiếu hụt estrogen. Vùng chịu tác động đầu tiên là khung chậu vì thế trong giai đoạn này người phụ nữ dễ mắc phải các chứng sa sinh dục, ngứa âm hộ, âm đạo khô, giao hợp rát... thiếu estrogen còn sinh ra ảnh hưởng xấu tới hệ thần kinh, tuyến nội tiết... sinh ra chứng mất ngủ, mệt mỏi, cáu gắt, lo âu,... đó đều là những biểu hiện của hội chứng thời kỳ tiền mãn kinh.

Ở tuổi trung niên, bệnh tim mạch là nỗi lo của nhiều chị em.

Ở tuổi trung niên, bệnh tim mạch là nỗi lo của nhiều chị em.

Bệnh tim mạch

Ở độ tuổi sinh đẻ, hệ thống tim mạch của phụ nữ được bảo vệ bởi các hormon sinh dục nữ (estrogen), các hormon sinh dục này có tác dụng giảm hàm lượng cholesterol của cơ thể, bảo vệ thành mạch và tim. Khi ngoài tuổi 40 (đến tuổi tiền mãn kinh), lượng hormon sinh dục bị giảm đáng kể và bắt đầu giai đoạn tiến triển các bệnh tim mạch (tăng huyết áp, bệnh mạch vành...). Ngoài sự thay đổi nội tiết, nguyên nhân khiến phụ nữ ở độ tuổi này mắc bệnh tim mạch nhiều hơn so với các độ tuổi khác và nhiều hơn nam giới là do tỉ lệ mắc bệnh tiểu đường týp 2 cao hơn, hay bị các rối loạn tuyến giáp hơn, có nhiều vấn đề (áp lực) trong gia đình và công việc hơn so với nam. Hệ thống tim mạch ở phụ nữ cũng dễ bị tổn thương hơn khi có tác động của các tác nhân độc hại.

Bệnh tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành ở phụ nữ diễn biến phức tạp hơn nên vấn đề phòng bệnh, phát hiện và chữa trị kịp thời các bệnh này là quan trọng hàng đầu.

Phụ nữ sau tuổi 40, khả năng điều chỉnh có tính phản xạ của cơ thể đối với huyết áp suy giảm. Cũng chính vì thế mà dễ xuất hiện các bệnh tăng huyết áp, bệnh huyết áp thấp có tính thể vị ở thời kỳ này. Sau khi quỳ hoặc ngồi xổm lâu đột xuất đứng lên có thể xuất hiện một số hiện tượng như choáng váng, chóng mặt, mắt trở nên tối sầm lại, thậm chí có trường hợp bị chập choạng rồi ngã lăn ra. Những phụ nữ lao động thể lực quá nặng hoặc tinh thần căng thẳng quá độ, dễ có khả năng xuất hiện tim đập thất thường, những nguyên nhân quan trọng phát sinh đột tử ở phụ nữ tuổi trung niên cần phải hết sức cảnh giác.

Bệnh xương khớp

Sau tuổi 40, hiện tượng đau lưng, vùng thắt lưng đã bắt đầu xuất hiện và ngày một rõ rệt. Một số công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng phụ nữ sau tuổi 35, sức mạnh cơ bắp cứ 10 năm lại suy giảm 10 - 20%, thường xuất hiện các cảm giác khó chịu ở các khớp, đồng thời dễ phát sinh những biến đổi có tính suy thoái như loãng xương, có bệnh ở cột sống cổ.

Loãng xương là căn bệnh không gây chết người nhưng là mối đe dọa đến chất lượng cuộc sống của phụ nữ. Càng nhiều tuổi, mật độ xương càng giảm và loãng dần, đặc biệt là những người nhỏ bé, người tiền căn gia đình bị loãng xương, mãn kinh sớm hay bị cắt buồng trứng. Khi bị loãng xương rất dễ dẫn đến nguy cơ gãy xương hông, xương đùi, cổ xương đùi, xương cẳng chân, bị đau lưng và còng lưng do cột sống bị sụp. Loãng xương còn làm mất khả năng vận động tự nhiên của cơ thể, từ đó gây khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày. Nguyên nhân gây loãng xương thường do chế độ ăn uống thiếu dưỡng chất, đặc biệt thiếu canxi và vitamin D. Ngoài ra, phụ nữ hút thuốc lá, uống rượu, sử dụng thuốc có chứa chất steroid... cũng dễ bị loãng xương.

Nguy cơ ung thư tử cung và ung thư vú

Phụ nữ tuổi trung niên có nguy cơ mắc bệnh ung thư cổ tử cung và ung thư vú. Các yếu tố liên quan làm tăng nguy cơ mắc bệnh là do sau 35 tuổi, nội tiết tố sinh dục, nang noãn của phụ nữ giảm, sức đề kháng kém nên rất dễ viêm nhiễm âm đạo, cổ tử cung kéo dài (nhất là nhiễm siêu vi Herpé simplex II...), virut HPV... là một nguyên nhân dẫn đến ung thư cổ tử cung.

Ung thư vú là nỗi ám ảnh của phụ nữ, căn bệnh âm thầm mà rất nguy hiểm. Phụ nữ tuổi 40 có khoảng 18% được chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú. Gia đình có người từng bị ung thư vú, nguy cơ tăng gấp 3-5 lần; ngoài ra còn do béo phì, không cho con bú sữa mẹ hoặc không sinh con, hoặc có con đầu lòng quá muộn, do dậy thì sớm và mãn kinh muộn... Do vậy, nên tự khám vú xem có bất thường, đồng thời cần được khám định kỳ ở các cơ sở y tế chuyên khoa mỗi năm một lần. Khi nhận thấy các triệu chứng như: sự thay đổi kích thước và hình dạng của vú, xuất hiện những khối u hay sưng tấy ở nách, chảy máu ở núm vú hay đau ngực... hãy nhanh chóng đến các cơ sở khám bệnh chuyên khoa để kiểm tra và điều trị sớm.

Ðề phòng bệnh về tiêu hóa và chuyển hóa

Rất nhiều phụ nữ tuổi trung niên đều có thắc mắc: không ăn nhiều mà vẫn béo. Đó là do khi bước vào tuổi trung niên, hệ số tiêu hóa và chuyển hóa chất hạ thấp rõ rệt, lượng phân tiết của dịch vị dần dần ít đi, yêu cầu của thức ăn cũng ít hơn so với thời kỳ thanh niên, đồng thời khả năng tiêu hóa hạ thấp. Ngoài ra, do chức năng chuyển hóa chất hạ thấp, sự tiết ra insulin cũng ít đi, tỉ lệ mắc bệnh tiểu đường cũng tăng cao rõ rệt. Vì thế, phụ nữ ngoài tuổi 40 cần chú ý phòng bệnh.

Lời khuyên của thầy thuốc

Để phòng bệnh ở lứa tuổi này, phụ nữ cần lưu ý chế độ ăn uống khoa học: không quá 5-6g muối/ngày, tăng cường ăn các thức ăn có chứa nhiều vitamin E, C, A, B6, B12, acid folic, canxi, hạn chế đồ ăn có chứa nhiều cholesterol như trứng gia cầm, tim, gan động vật, bơ, kem, sôcôla...Luôn duy trì cân nặng ở mức hợp lý, không uống rượu bia, hút thuốc lá, tăng cường rèn luyện thể dục thể thao. Luôn kiểm soát hàm lượng cholesterol, glucoza máu và các chỉ số huyết áp ở mức độ cho phép; giảm căng thẳng thần kinh, kiểm soát tốt strees để phòng bệnh. Nên đi khám sức khỏe định kỳ hàng năm. Khi thấy có những dấu hiệu bất thường cần đi khám bệnh ngay để điều trị sớm.

BS. CH U THANH TÚ

Nguyên nhân vô kinh thứ phát ở tuổi dậy thì

Lúc trước kinh nguyệt của cháu đều, song tự nhiên bị mất kinh.

(nguyenbinh @gmail.com )

Trường hợp của cháu gọi vô kinh thứ phát. Bình thường ở tuổi này do nội tiết chưa ổn định, nên trong 1-2 năm đầu thấy kinh các bé gái tuổi dậy thì có thể có tháng không đều. Nguyên nhân do nội tiết ở tuổi này chưa ổn định, do vậy em không nên quá lo lắng. Thấy kinh là báo hiệu bé gái chính thức dậy thì (buồng trứng đã hoạt động và đặc biệt là có khả năng rụng trứng và có thể thụ thai nếu có quan hệ tình dục với người khác giới). Và một số nguyên nhân gây vô kinh thứ phát khác có thể kể ra như: sau đợt ốm dài, cơ thể suy nhược, thiếu máu, học hành căng thẳng, stress, buồng trứng đa nang... Kinh nguyệt cũng là tấm gương phản ánh sức khỏe sinh sản của chị em phụ nữ. Bình thường vòng kinh 28-30 ngày. Nếu dài hơn trên 35 ngày gọi kinh thưa, nếu ngắn hơn 25 ngày gọi kinh mau. Do vậy, để tìm nguyên nhân gây vô kinh, em nên nói chuyện với mẹ hoặc chị, những người thân đã trưởng thành để được đưa đi khám ở phòng khám chuyên khoa sản (chỉ cần siêu âm ổ bụng có thể biết được có thai nếu có quan hệ tình dục, hoặc phát hiện được buồng trứng đa nang) từ đó bác sĩ sẽ có chỉ định điều chỉnh vòng kinh phù hợp.

BS. Kim Oanh

Để viêm âm đạo do nấm không tái phát

Nguyên nhân gây bệnh

Nấm âm đạo thường gặp ở phụ nữ là do một loại nấm có tên Candida Albicans gây ra. Nấm Candida có thể phát triển và gây bệnh ở bất cứ đâu trên cơ thể con người nhưng chủ yếu ở da, niêm mạc. Niêm mạc ở âm hộ, âm đạo của phụ nữ là nơi có thể dễ dàng bị nấm Candida ký sinh tại chỗ phát triển và gây bệnh khi có điều kiện thuận lợi như: thời tiết nóng, ẩm hoặc sử dụng kháng sinh có phổ diệt khuẩn rộng và kéo dài, mất cân bằng môi trường sinh lý âm đạo, phụ nữ có thai,…

https://goo.gl/8vgOev

Người bệnh cần đi khám khi âm đạo có biểu hiện bất thường.

Biểu hiện

Khi bị viêm âm đạo do nấm Candida, người bệnh thường có biểu hiện triệu chứng ngứa ngáy âm hộ, có cảm giác nóng bỏng, giao hợp bị đau đớn và khó khăn... m đạo luôn trong trạng thái ẩm ướt, ngứa ngáy khó chịu. Cảm giác ngứa ngáy thường nặng hơn vào ban đêm. Mép âm đạo tấy đỏ, đau rát khi đi tiểu, đau rát khi quan hệ tình dục. Khám phụ khoa thấy niêm mạc âm hộ, âm đạo bị viêm đỏ, có mảng màu trắng, dịch tiết ra như sữa đông. Nếu không được điều trị sớm và đúng cách, tổn thương có thể lan ra quanh âm hộ và háng bẹn của bệnh nhân, nấm lây lan đến tử cung, vòi trứng, ảnh hưởng đến chức năng sinh sản. Phụ nữ mang thai bị viêm âm đạo do nấm có thể ảnh hưởng đến thai nhi, dẫn đến đẻ non.

Điều trị và phòng ngừa tái phát

Viêm âm đạo do nấm candida gây ngứa rát, khó chịu khi quan hệ tình dục, ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh hoạt hằng ngày và rất dễ tái phát. Do vậy khi có biểu hiện bất thường ở âm đạo như: ngứa ngáy, có khí hư,… chị em cần đi khám tại cơ sở y tế chuyên khoa để khám và làm các xét nghiệm xác định nguyên nhân gây bệnh để được điều trị đúng cách. Khi được chẩn đoán bị viêm âm đạo do nấm tuân thủ đúng chỉ định điều trị của bác sĩ chuyên khoa, thực hiện tái khám và xét nghiệm lại theo đúng lịch hẹn của bác sĩ. Cần điều trị cho cả hai vợ chồng vì khi giao hợp, các vi khuẩn nấm sẽ đọng lại ở bao quy đầu của người chồng và đây là nguyên do khiến người vợ rất dễ nhiễm nấm trở lại.

Để phòng ngừa viêm âm đạo do nấm, chị em nên thường xuyên vệ sinh bộ phận sinh dục, giữ quần áo khô ráo, sạch sẽ, phơi ở nơi có ánh sáng mặt trời, không nên thụt rửa sâu để tránh làm mất cân bằng môi trường pH, tạo điều kiện cho nấm phát triển và gây bệnh.

Bác sĩ Nguyễn Thị Hoa

Nhân xơ tử cung vùng eo điều trị thế nào?

Em đi khám, siêu âm được chẩn đoán nhân xơ vùng eo tử cung. Xin hỏi bác sĩ bệnh của em có phải mổ không?

Ngô Thị Bình(Thái Nguyên)

Đa số bệnh nhân thấy bụng dưới to và cảm giác trằn bụng dưới hay có các biểu hiện như: chèn ép bàng quang gây tiểu nhiều lần, tiểu khó, đôi khi bí tiểu; chèn ép lên niệu quản gây thận ứ nước; chèn vào trực tràng gây táo bón hay đau khi đại tiện; chèn ép tĩnh mạch gây phù chi dưới; khối u to chèn vào ruột gây rối loạn tiêu hóa. Ra huyết âm đạo gặp trong nhiều trường hợp, thể hiện dưới dạng cường kinh. Dần dần kinh nguyệt trở nên rối loạn và ra nhiều (số lượng nhiều, nhiều máu cục và máu loãng). Thấy kinh dài ngày (7-10 ngày, có khi nhiều hơn). Nếu để kéo dài, bệnh nhân bị thiếu máu (mệt mỏi, chóng mặt khi thay đổi tư thế) làm ảnh hưởng đến sức khỏe chung. Chậm có thai và có thể gây vô sinh; dễ sẩy thai; tăng nguy cơ viêm nội mạc tử cung, nhân xơ hoại tử sau sinh. Nhiều trường hợp không có triệu chứng. Trường hợp của bạn, nếu đau nhẹ không ảnh hưởng tới sinh hoạt thì bạn cứ yên tâm không cần lo lắng, nhưng nếu đau nhiều, có chèn ép gây những biểu hiện như đã nêu trên thì bạn cần khám bác sĩ sản phụ khoa, sau khi thăm khám cụ thể bác sĩ sẽ có chỉ định phù hợp bóc nhân xơ hay cắt tử cung bạn ạ.

BS. Kim Oanh

Bệnh viện Việt Nam Thụy Điển Uông Bí tổ chức lớp học tiền sản cho thai phụ

Chủ đề đầu tiên được triển khai: “Khám thai và quản lý thai nghén”.Với chủ đề này lớp học đã thu hút được 19 học viên hầu hết là phụ nữ mang thai và sắp đến thời kỳ sinh nở, bên cạnh đó có các bà và các bố cùng tham gia.

Đến với lớp học các học viên được đội ngũ giảng viên nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực Sản và Sản phụ khoa của bệnh viện cung cấp và trao đổi các kiến thức về quá trình quản lý thai nghén, nắm được các giai đoạn quan trọng của thời kỳ thai nghén và đặc biệt cần làm gì để tốt nhất cho mẹ và bé …

Các thai phụ tham gia lớp học tiền sản tại BV Việt Nam Thụy Điển Uông Bí

Bên cạnh đó các bà, các mẹ, các bố còn được thực hành cách tắm bé, cách vệ sinh rốn và mặc quần áo cho trẻ sơ sinh… giúp bé khỏe, ngủ ngon.

Thứ 5 ngày 17/8/2017, bệnh viện tiếp tục tổ chức chương trình với chủ đề: “Các dấu hiệu nhận biết khi chuyển dạ - Kỹ thuật thở và rặn đẻ “ đồng thời thực hành phương pháp da kề da cho những học viên tham gia.

Hướng dẫn cách chăm sóc bé sơ sinh

Ngoài ra, bệnh viện vẫn tiếp tục mở các lớp học tiền sản trong thời gian tiếp theo, do đó để biết thêm về thông tin về lớp học độc giả có thể cập nhật trên trang web: vsh.org.vn và fanpage: Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí. Nếu bạn có nhu cầu tham gia lớp học hoặc cần tư vấn trong quá trình mang thai xin vui lòng liên hệ theo số: 0912 089 744 – 0972 387 322 – 0912 849 472.

N.H